Cập nhật hiện trạng của Near Protocol

Near Protocol đã trải qua Quý 3 đầy biến động của thị trường tiền mã hóa như thế nào? Hãy cùng Coinvn tìm hiểu thông qua bài viết dưới đây.

3029Total views
Cap nhat hien trang cua Near Protocol - anh 1
Cập nhật tình hình của Near Protocol trong Quý 3 năm 2022

Nội dung chính

  • Near đã huy động được hơn 1 tỷ USD để tăng tốc phát triển hệ sinh thái Near Protocol
  • Trong Quý 3, số lượng tài khoản hoạt động trên Near Protocol đã thiết lập mức cao nhất mọi thời đại là 3 triệu account. Sự gia tăng chủ yếu là do sự ra mắt của dự án move to earn – Sweat Economy.
  • Near protocol kết thúc Quý 3 với TVL đạt 343 triệu USD tăng 10 lần so với đầu năm 2022.
  • Giai đoạn 1 của Nightshade đã live trên mainnet cho phép phân bổ toàn bộ (dữ liệu + xử lý) cho một tập hợp con mới của các NEAR validator. Bản cập nhật đã cải thiện khả năng phân quyền bằng cách giảm yêu cầu phần cứng và tăng gấp ba lần dung lượng validator của mạng.
Cap nhat hien trang cua Near Protocol - anh 2

Phân tích hiệu suất

Tổng quan về tài chính

Cap nhat hien trang cua Near Protocol - anh 3

Sau Quý thứ hai chứng kiến ​​NEAR mất 74% giá trị theo vốn hóa thị trường. Vốn hóa thị trường của Near Protocol đã phục hồi trong Quý 3 với mức tăng 14% theo quý từ 2,47 tỷ USD lên 2,82 tỷ USD. Mặc dù vậy, vốn hóa thị trường của dự án này vẫn giảm 70% so với mức cao nhất mọi thời đại là 9,6 tỷ USD vào ngày 27 tháng 12 năm 2021.

Doanh thu giảm 82% so với Quý 2 xuống còn 220.000 USD. Doanh thu giảm là do lượng giao dịch giảm 35% cùng với phí chuyển đổi chỉ thấp hơn một cent. Để so sánh, Polygon có doanh thu 4,2 triệu đô la Mỹ (-26% theo quý) với phí giao dịch 0,09 USD và Avalanche có doanh thu là 2,3 triệu USD (-94% theo quý) với phí giao dịch trung bình 0,14 USD.

NEAR là token gốc của Near Protocol. NEAR được sử dụng để bảo mật mạng thông qua staking, sử dụng làm phí giao dịch và phí lưu trữ. Không giống như cơ chế theo kiểu đấu giá của Ethereum, phí giao dịch NEAR điều chỉnh theo tính toán mạng và băng thông. Phí lưu trữ, được coi là chi phí dài hạn cho tài nguyên, là các khoản thanh toán bằng tài khoản và hợp đồng thông minh để sử dụng không gian lưu trữ trên Near Network.

NEAR không có nguồn cung cố định và sử dụng cả hai cơ chế lạm phát và giảm phát. Có tỷ lệ lạm phát cố định hàng năm là 5%, trong đó 90% được trao cho validator và 10% còn lại sẽ được chuyển đến kho bạc giao thức. Kho bạc NEAR được kiểm soát bởi NEAR Foundation. Vào cuối quý 3, kho bạc có số dư 10 triệu NEAR (36 triệu USD). Trong tổng số phí giao dịch, 70% được đốt và 30% còn lại được chuyển cho hợp đồng mà giao dịch đó bắt đầu. NEAR đã kết thúc Quý 3 với khoảng 800 triệu NEAR được lưu hành và dự án tiếp tục theo lộ trình phân phối 5 năm.

Tổng quan về network

Cap nhat hien trang cua Near Protocol - anh 4
Cap nhat hien trang cua Near Protocol - anh 5

Trong Quý 3, số lượng các địa chỉ đang hoạt động trên Near protocol tăng vọt 130% so với Quý 2 để đặt mức cao nhất mọi thời đại là 3 triệu account. Sự gia tăng đột biến về các địa chỉ hoạt động chủ yếu là do sự ra mắt của Sweat Economy. Trong khi đó các số liệu thống kê về số lượng địa chỉ mới giảm 55% so với Quý 2 xuống chỉ còn 4,7 triệu và số lượng giao dịch giảm 35% so với Quý 2 xuống 40 triệu.

Chart  Description automatically generated

Vào tháng 4, một quan hệ đối tác mới với Sweatcoin đã được Near Protocol công bố. Sweatcoin là một công ty công nghệ có trụ sở tại London khuyến khích mọi người di chuyển nhiều. Dự án đã đi trước thời đại khi sử dụng hệ thống phần thưởng Web2, nơi người dùng có thể tích lũy token khi di chuyển và đổi chúng để lấy phần thưởng. Đương nhiên, Sweatcoin đã chuyển sang Web3.

Vào cuối tháng 7, Sweatcoin đã ra mắt trên Near Protocol với tên gọi Sweat Economy. Dự án này đã có hơn 3,5 triệu người dùng đăng ký hoạt động kể từ khi ra mắt, 15 triệu ví duy nhất, được xếp hạng là ứng dụng được sử dụng nhiều nhất trên không gian tiền mã hóa. Không những thế dự án này còn được xếp hạng là ứng dụng tài chính hàng đầu ở 51 quốc gia.

Sự phát triển của hệ sinh thái trong Quý 3

Những số liệu thống kê dưới đây cho chúng ta thấy số liệu tổng quan về hệ sinh thái và sự phát triển của Near Protocol ở Quý 3. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ cùng phân tích từng mảnh ghép của hệ sinh thái này.

Cap nhat hien trang cua Near Protocol - anh 6

DeFi

Cap nhat hien trang cua Near Protocol - anh 7
Cap nhat hien trang cua Near Protocol - anh 8

Near đã kết thúc quý 3 với TVL đạt khoảng 513 triệu USD, tăng 10 lần so với cùng kỳ năm ngoái nhưng giảm 30% so với Quý 2. Ref Finance – một DEX trên Near chiếm 45% TVL của toàn bộ hệ sinh thái. Ref Finance đã là ứng dụng hàng đầu trên Near Protocol và tự hào với các nhà đầu tư blue chip bao gồm Alameda, Dragonfly và Jump. Aurora, một nền tảng EVM chiếm 33% TVL tương đương 170 triệu USD. Aurora là một mảnh ghép quan trong của Near Ecosystem, sẽ được đề cập sâu hơn trong phần sau của bài viết này. Để so sánh với một số Layer 1 khác thì Avalanche đã kết thúc Quý 3 với TVL đạt 1,9 tỷ USD. Trong khi đó con số này của và Solana lần lượt là 6,6 tỷ USD và 2,1 tỷ USD.

Cap nhat hien trang cua Near Protocol - anh 9

Trong Quý 3, Near Protocol đạt doanh số bán hàng 16.000 NFT ( giảm 68% so với Quý 2) và 20.000 ví đang hoạt động ( giảm 66% theo quý) với sự phân chia đồng đều giữa người mua NFT và người bán NFT. Hoạt động của NFT trên Near Protocol chịu sự chi phối của Paras Marketplace, một NFT Marketplace dành cho thẻ kỹ thuật số. Ngoài ra, có nhiều dự án NFT trên nhiều trường hợp sử dụng khác nhau được khởi chạy gần đây hoặc đang được phát triển, bao gồm Mintbase, DAO Records, Raiz, Naksh, NEARxPublish và Endemic.

Gaming

Near protocol có một hệ sinh thái trò chơi sơ khai. Tuy nhiên, nhiều công ty đang phát triển trò chơi hoặc dịch vụ cho cộng đồng trò chơi và nhà phát triển blockchain bao gồm:

  • ARterra Labs – Nền tảng cơ sở hạ tầng tương tác với người hâm mộ Web3 cho eSports và gaming market.
  • Atlantis World – Nền tảng cơ sở cho các tính năng kết nối metaverse bao gồm âm thanh, video, văn bản và cung cấp các tính năng thân thiện với nhà phát triển như công cụ no-code để xây dựng trong metaverse.
  • OP GAMES – Một công ty phát triển trò chơi blockchain giúp các nhà phát triển trò chơi Web2 dễ dàng di chuyển sang Web3 bằng cách sử dụng SDK. 
  • Vorto Gaming – Một công ty phát triển trò chơi blockchain với NFT marketplace. Tựa game đầu tiên ra mắt trên Vorto là Hash Rush, một trò chơi chiến lược trực tuyến nhiều người chơi sử dụng cơ chế chơi để kiếm tiền.
  • Play Ember – Một nền tảng trò chơi Web3 sử dụng Near wallet.

Hoạt động của nhà phát triển

Graphical user interface, application  Description automatically generated

NEAR ưu tiên trở thành một blockchain thân thiện với nhà phát triển và ngôn ngữ lập trình hợp đồng thông minh của blockchain đóng một vai trò lớn trong khả năng thu hút các nhà phát triển ứng dụng. Trước đây, các nhà phát triển trên NEAR đã có thể sử dụng Rust, AssemblyScript và Solidity (thông qua Aurora). Vào tháng 8, NEAR đã phát hành SDK JavaScript, cho phép các nhà phát triển xây dựng các hợp đồng thông minh trên NEAR bằng một trong những ngôn ngữ phổ biến nhất trên thế giới. Nhìn chung, NEAR đã đăng ký tổng số hơn 5.000 hợp đồng duy nhất kể từ khi bắt đầu triển khai dự án.

Aurora

Chart, histogram  Description automatically generated

Aurora là một EVM được triển khai dưới dạng hợp đồng thông minh trên Near Protocol. Nó kết hợp sự quen thuộc của người dùng và nhà phát triển của EVM với khả năng mở rộng và bảo mật của Near. Các thành viên cũ của Near Protocol đã tạo ra Aurora và EVM đã hoạt động vào giữa năm 2021. Kể từ đó, Aurora đã là một trong những ứng dụng hàng đầu trên Near và hệ sinh thái của riêng nó thậm chí còn sánh ngang với Near Protocol về thông số TVL.

Vào đầu tháng 9, Aurora đã phát hành một bản nâng cấp bao gồm tính năng gọi hợp đồng chéo mới. Tính năng này kết nối thời gian chạy đồng bộ của Aurora và không đồng bộ của NEAR, cho phép hợp đồng thông minh Aurora giao tiếp với bất kỳ hợp đồng thông minh nào khác trên NEAR trong một giao dịch duy nhất và không có bất kỳ cầu nối nào. Điều này tiếp tục kết nối hai hệ sinh thái, mở ra khả năng mới cho các ứng dụng Aurora chẳng hạn như bộ tổng hợp DEX có thể khai thác thanh khoản trên cả Aurora và NEAR.

Octopus Network

Octopus Network là một mạng lưới các blockchain (chuỗi ứng dụng) dựa trên substrate, tương thích với EVM được xây dựng như một tập hợp các hợp đồng thông minh trên NEAR. Cũng như Polkadot, các app-chain phải đăng ký và vượt qua cuộc bỏ phiếu của những người nắm giữ token gốc của Octopus, OCT, trước khi tham gia mạng. Hiện đã có năm app-chain trên mainnet.

Rainbow Bridge

Chart, histogram  Description automatically generated

Rainbow Bridge là một cây cầu không được phép và không tin cậy kết nối Ethereum, Near và Aurora. Mục tiêu là khi chuyển sang Ethereum, sử dụng một thiết kế optimistic để tiết kiệm gas hơn. 

Kiến trúc của Rainbow Bridge đã được thử nghiệm thành công hai lần trong năm nay, lần đầu tiên vào tháng 5 và gần đây là vào tháng 8. 

Tổng tài sản bắc cầu qua Rainbow Bridge là gần 3 tỷ USD. Trong Quý 3, tài sản bắc cầu đã giảm 90% từ 1,5 tỷ USD xuống còn 145.000 USD. Sự suy giảm càng trở nên trầm trọng hơn do cầu tạm dừng hoạt động trong khoảng hai tuần để chờ đợi sự kiện The Merge.

Phân quyền và Staking

A screenshot of a computer  Description automatically generated with medium confidence

Near sử dụng thuật toán đồng thuận Thresholded Proof of Stake (PoS) để thực hiện các giao dịch. Mạng đặt ra một cách thuật toán ngưỡng tham gia trình xác thực tối thiểu trong đó trình xác thực đấu giá để tham gia. 

Nhìn chung, Near kết thúc Quý 3 với 483 triệu NEAR được staking tăng 13% so với Quý 2, bằng 60% nguồn cung lưu hành. Near protocol có 118 validator với hệ số Nakamoto là 9. NEAR đã tăng số lượng trình xác thực đang hoạt động hàng quý, cho thấy rằng mạng đang dần phân cấp. Hệ số Nakamoto là 9 đặt Near ở mức trung bình của không gian tiền mã hóa.

Phân tích định tính

Nightsharding

NEAR được xây dựng dựa trên quy mô theo chiều ngang với thiết kế sharding độc đáo được gọi là Nightshade, đang được thực hiện trong bốn giai đoạn. Bắt đầu với Giai đoạn 0, ra mắt vào Quý 4 năm 2021, nó chia mạng thành bốn phân đoạn dữ liệu. Validator được yêu cầu chỉ lưu trữ trạng thái của phân đoạn được chỉ định của họ nhưng vẫn phải xác thực (xử lý và thực hiện) các giao dịch từ tất cả các shards.

Vào cuối tháng 9, Giai đoạn 1 đã được phát hành trên mainnet. Giai đoạn 1 tăng gấp ba lần khả năng xác thực của mạng, thêm tối đa 200 nhà sản xuất chunk-only vào 100 nhà sản xuất khối. Thông qua các nhà sản xuất chunk-only, giai đoạn 1 mang đến một số tính năng (dữ liệu và xử lý) đầy đủ cho Near Protocol. Tuy nhiên, các nhà sản xuất khối vẫn phải xác nhận tất cả các shard.

Nightshade có thêm hai giai đoạn được lên kế hoạch trước khi nó được triển khai đầy đủ. Giai đoạn 2 sẽ loại bỏ yêu cầu đối với các nhà sản xuất khối để xác nhận tất cả các shard. Do đó, Near sẽ có đầy đủ dữ liệu và xử lý sharding. Giai đoạn 3 sẽ mang lại khả năng dynamic resharding, cho phép mạng tự động thêm và loại trừ các shard dựa trên việc sử dụng mạng.

Lời kết

Trong Quý 3, giao thức NEAR mang lại kết quả khác nhau. Tài chính của NEAR phục hồi sau một quý thứ hai tồi tệ trong lịch sử. 

Trong những giai đoạn tiêu cực của thị trường, hệ sinh thái của Near Protocol vẫn tiếp tục phát triển. Không những thế các chỉ số liên quan đến phân quyền và staking nhìn chung là tích cực. Ngoài ra, trong Quý 3 Near đã huy động được hơn 1 tỷ đô la Mỹ để tăng tốc phát triển hệ sinh thái. Mặc dù, Near phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trong các Layer 1 khác nhưng việc gây quỹ lớn, tập trung vào nhà phát triển và kế hoạch mở rộng quy mô độc đáo có thể giúp dự án này tạo nên sự khác biệt.